“The more simple any thing is, the less liable it is to be disordered…”
Thomas Paine
Trước hết, chúng ta nên bắt đầu với định nghĩa “Lẽ thường” là gì?
Theo từ điển Tiếng Việt Soha: Lẽ thường là những điều thường thấy ở đời, được coi là hợp với quy luật, với đạo lí.
Theo từ điển tiếng Anh, lẽ thường có thể được hiểu là khả năng phán đoán thực tế.
Theo từ điển Merriam-Webster: Lẽ thường là “khả năng phán đoán lành mạnh và thận trọng dựa trên nhận thức đơn giản về một tình huống hoặc sự thật.” (Sound and prudent judgment based on a simple perception of the situation or facts.)
Theo từ điển Oxford: lẽ thường là “khả năng suy nghĩ một cách thực tế và đưa ra những quyết định hợp lý.” (the ability to think about things in a practical way and make sensible decisions)
Vậy, tựu chung lại, “lẽ thường” có thể được hiểu là năng lực phán đoán (heuristics) của con người, dựa trên sự tổng hợp của kinh nghiệm thực tiễn và lý trí cơ bản, được đa số thành viên trong một cộng đồng thừa nhận là hiển nhiên và đúng đắn mà không cần qua chứng minh phức tạp.
Cùng phân tích một ví dụ để hiểu thế nào là “lẽ thường”.
Nếu bạn đang đi ngoài đường và muốn sang đường, bạn sẽ có xu hướng nhìn về cả hai phía, trước và sau, bởi vì theo lẽ thường, xe cộ đều đang đến từ cả hai phía, lẽ thường đó mách bảo bạn phải nhìn cả hai phía và hiếm khi bạn thắc mắc, liệu nhìn cả hai phía hay chỉ nhìn một phía là điều tốt hơn, hoặc ít nhất, bạn tin rằng rủi ro khi nhìn hai phía so với lợi ích tức thời của việc nhìn cả hai phía là rất nhỏ.
Theo Thomas Paine (trong tác phẩm Common Sense -1776), “lẽ thường” là một công cụ phê phán bằng lý trí tự nhiên để phá vỡ chính những thói quen và sự thừa nhận mù quáng của đám đông. Cách nhìn nhận của Thomas Paine về “lẽ thường” mang tính chính trị, vì vậy, nó khả dĩ khác so với góc nhìn triết học – tâm lý học mà chúng ta đang phân tích. Tuy nhiên, đó là một góc nhìn hay, mình sẽ nói đến sau.
Trong một xã hội, “lẽ thường” nên là bộ lọc giúp chúng ta định hướng cuộc sống tránh khỏi những hỗn loạn không đáng có. Tuy nhiên, nếu “lẽ thường” – sự “thừa nhận mặc định” này, bị lợi dụng bởi những kẻ “thao túng”, trở thành một bức màn hoàn hảo để che đậy những mưu mô hèn hạ của họ thì sao? Khi đó, cái ác có thể lợi dụng “lẽ thường” để trở thành “không thể xảy ra” trong mắt một đám đông bị che mờ đi khả năng phán đoán.
Thử cùng mình phân tích một chút nhé!
Khi mọi người thảo luận và tranh luận, lẽ thường có xu hướng xuất hiện khi ai đó không có bằng chứng vững chắc để chứng minh lập trường của họ.
Ví dụ: “Lẽ thường cho rằng giảm thuế sẽ tạo ra việc làm.”
Chắc chắn, ở một mức độ nào đó điều đó có thể đúng, nhưng theo quy tắc chung, bằng chứng cho thấy điều đó chỉ đúng nếu bạn giảm thuế cho tầng lớp thấp hơn.[1]
Chúng ta đang sống trong một xã hội luôn có những điều mặc định được ngầm hiểu:
- Một người có học thức khó có thể hành xử vô văn hóa
Chúng ta mặc định giáo dục không chỉ dạy kiến thức IQ mà còn dạy lễ nghi, đạo đức và cách hành xử EQ. Do đó, theo lẽ thường, một người dành 20 năm ngồi trên ghế nhà trường sẽ có đầy đủ các chuẩn mực ứng xử của cộng đồng.
Và đúng là trong đa số trường hợp, người có học thức cao thường có xu hướng ứng xử văn minh hơn. Nhưng nếu phân tích một cách logic hơn, học thức gắn với thu nạp kiến thức, còn văn hóa hành xử là nhân cách. Một người có kiến thức nhưng thiếu nhân cách thì họ sẽ cư xử vô văn hóa; có chăng nhờ kiến thức họ sẽ nâng cấp sự vô văn hóa đó lên mức tinh vi, khó phát hiện hơn.
- Một người giàu sang không có lý do gì để đi lừa vài đồng bạc lẻ;
Theo lẽ thường, người có tiền, có sự giàu sang thì sẽ không cần phải lừa lọc để kiếm những số tiền không đáng là bao so với tài sản họ có. Chúng ta mặc định người giàu sẽ không mạo hiểm những gì họ đã có chỉ để lấy “vài đồng bạc lẻ”.
- Và một người luôn xuất hiện với vẻ ngoài tử tế, khéo léo, khiêm nhường thì “không đời nào” là một kẻ độc ác, tàn nhẫn.
Khi nhìn thấy một người có một trong số những đặc điểm tốt (giàu, giỏi, tử tế, khéo léo, khiêm nhường,…), chúng ta tự động “chiếu sáng” toàn bộ nhân cách của họ. Nhưng, “sự khiêm nhường giả tạo” (false humility – humblebragging) là một kỹ thuật thao túng đỉnh cao, giúp họ xây dựng một “vùng an toàn” trong mắt tất cả.
Với những người hiểu rất rõ điều này, họ có thể biến nó thành vũ khí.
Khi họ mang trên mình vỏ bọc trùng khớp hoàn toàn với những gì đám đông kỳ vọng ở một “người tốt”, thì bất kỳ lời tố cáo nào hướng về họ đều trở nên phi lý, vì nó đi ngược lại “lẽ thường”. Họ sẽ tự động dùng “lẽ thường” ấy để bác bỏ sự thật. Họ chọn tin vào hình tượng mình tôn thờ hơn là tin vào một sự thật làm đảo lộn thế giới quan của họ.
Trong thời đại mà mạng xã hội, hình ảnh cá nhân trở thành một loại quyền lực mềm, thì những kẻ “thao túng” càng dễ dàng hơn để tạo dựng hình ảnh về “sự tử tế”.
Những bài đăng triết lý, những chuyến đi từ thiện hay hình ảnh về một cuộc sống mẫu mực được tính toán kỹ lưỡng để tạo ra “Hiệu ứng hào quang” (Halo effect). Khi đã chiếm trọn được cảm tình của đám đông, họ có được sự bảo vệ vô điều kiện. Bất kỳ lời tố cáo nào hướng vào họ cũng sẽ bị số đông coi là sự đố kỵ hoặc vu khống. Đồng thời, khi bạn tin ai đó là “người tốt” dựa trên vầng hào quang của họ, bạn sẽ tự động hạ thấp cảnh giác, và biến mình thành nạn nhân cho những toan tính của họ.
Cái ác tinh vi nhất không phải là cái ác chống lại xã hội, mà là cái ác nhập nhằng với những quy chuẩn xã hội. Những kẻ đeo mặt nạ còn tiếp tục diễn vở kịch của mình bằng những chiêu trò khác. Thay vì tấn công trực diện, họ đóng vai là người trung lập, dùng những lời bóng gió, những câu chuyện “làm quà” mang cái mác góp ý chân thành để gieo rắc sự nghi ngờ về nhân cách của nạn nhân. Khi lời nói dối được lặp lại đủ nhiều bởi số đông, nó nghiễm nhiên trở thành sự thật (The ilusory Truth effect).
Những kẻ thao túng, thường mang thêm nhiều đặc quyền bởi họ có khả năng xây dựng một mạng lưới những kẻ phục tùng xung quanh họ. Sự đồng lõa của những người có quyền lợi liên quan tạo ra cả một mạng lưới những kẻ có đức tin mù quáng với kẻ thao túng.
Những nạn nhân được lựa chọn, thường phải đơn độc đối đầu với một mạng lưới quyền lực và tài chính đủ mạnh, sẵn sàng bóp nghẹt công lý ngay từ trong trứng nước. Khi nạn nhân lên tiếng, họ không chỉ va phải bức tường “lẽ thường” của đám đông, mà họ còn phải đối diện với sự tấn công ngược lại, đẩy họ vào ngõ cụt của sự tuyệt vọng, để rồi phải im lặng trước kẻ xấu.
Hãy nhìn vào hồ sơ của những kẻ như Jeffrey Epstein. Tại sao một mạng lưới tội ác có thể tồn tại hàng thập kỷ? Câu trả lời một phần nằm ở sự thao túng.
Epstein và những kẻ tương tự không trốn trong hang tối; chúng đứng ngay dưới “ánh đèn sân khấu”, kết giao với những bộ óc khoa học vĩ đại nhất, làm từ thiện với hàng triệu USD. Chính vì thế, khi một nạn nhân lên tiếng, đám đông sẽ tự hỏi: “Tại sao một người có tất cả lại phải làm chuyện hèn hạ đó?”.
Kẻ thao túng có thể mua được sự im lặng, mua được những lời tung hô, và dùng quyền lực để bóp nghẹt tiếng nói của người yếu thế. Nhưng có một thứ họ không bao giờ thao túng được: Sự thật.
Sự thật sẽ luôn kiên nhẫn hơn lời nói dối.
Dù có một triệu người tin vào điều sai, cũng không thể làm sự thật thay đổi. Bằng chứng chứng minh cho điều gì đó đúng, hoặc ít nhất là không sai. Và lẽ thường không bao giờ được coi là “bằng chứng”.
Lời nói dối dù có lớn đến đâu cũng chỉ như một tòa lâu đài trên cát; sự thật thì luôn luôn ở đó, sẵn sàng đánh tan toà lâu đài cát, để lộ ra bên dưới một nhân cách vỡ nát đáng thương hại.
Nếu để chính mình bị trói buộc trong những niềm tin mù quáng, thì khả năng nhận biết sẽ bị mất đi. Sự tiếp nhận thụ động mọi thứ mà không có lý trí soi sáng (Reflection) sẽ tạo ra những sai lầm tăm tối và khiến chúng ta mất đi khả năng lắng nghe lý trí.
Vậy, làm thế nào để tránh bị rơi vào “chiếc bẫy” của những kẻ thao túng?
Hãy tự hỏi lại chính mình: “Tại sao tôi lại tin rằng người này tốt? Dựa trên bằng chứng thực tế về hành động của họ, hay dựa trên những gì họ thể hiện cho số đông nhìn thấy?”
Mình sẽ trích dẫn một góc nhìn của René Descartes (A Discourse on Method – 1637)
I believed that the four following would prove perfectly sufficient for me, provided I took the firm and unwavering resolution never in a single instance to fail in observing them.
The first was never to accept anything for true which I did not clearly know to be such; that is to say, carefully to avoid precipitancy and prejudice, and to comprise nothing more in my judgement than what was presented to my mind so clearly and distinctly as to exclude all ground of doubt.
The second, to divide each of the difficulties under examination into as many parts as possible, and as might be necessary for its adequate solution.
The third, to conduct my thoughts in such order that, by commencing with objects the simplest and easiest to know, I might ascend by little and little, and, as it were, step by step, to the knowledge of the more complex; assigning in thought a certain order even to those objects which in their own nature do not stand in a relation of antecedence and sequence.
And the last, in every case to make enumerations so complete, and reviews so general, that I might be assured that nothing was omitted.
The long chains of simple and easy reasonings by means of which geometers are accustomed to reach the conclusions of their most difficult demonstrations, had led me to imagine that all things, to the knowledge of which man is competent, are mutually connected in the same way, and that there is nothing so far removed from us as to be beyond our reach, or so hidden that we cannot discover it, provided only we abstain from accepting the false for the true, and always preserve in our thoughts the order necessary for the deduction of one truth from another.
Bản dịch:
…, tôi tin rằng với tôi thì bốn nguyên tắc sau đây là hoàn toàn đủ, miễn là tôi kiên quyết không bao giờ vi phạm chúng, dù chỉ một lần.
Thứ nhất, không bao giờ chấp nhận bất cứ điều gì là đúng nếu không biết chắc chắn đó là sự thật; điều đó có nghĩa là, tôi phải cẩn thận, tránh sự vội vàng và thành kiến, và không để phán đoán của mình chứa bất cứ điều gì ngoài những điều đã có trong tâm trí một cách rõ ràng và rành mạch, đến mức không còn chỗ cho sự nghi ngờ.
Thứ hai, chia mỗi vấn đề đang xem xét thành càng nhiều phần càng tốt, và việc đó càng cần thiết để giải quyết từng phần một cách thỏa đáng.
Thứ ba, dẫn dắt suy nghĩ của chính mình theo một trật tự: bắt đầu với những đối tượng đơn giản và dễ hiểu nhất, dần dần tiến lên, từng bước một về những phía những đối tượng phức tạp hơn; ngay cả với những đối tượng mà về bản chất không có mối quan hệ nhân – quả, cũng nên gán trong suy nghĩ một trật tự nhất định.
Và cuối cùng, trong mọi trường hợp, phải liệt kê đầy đủ và tổng quát tất cả mọi thứ, để có thể chắc chắn rằng không có điều gì bị bỏ sót.
Những chuỗi lập luận đơn giản và dễ hiểu mà các nhà hình học thường dùng để đi đến kết luận của những chứng minh khó khăn nhất, đã khiến tôi tưởng tượng rằng tất cả mọi thứ mà con người có khả năng nhận thức đều có mối liên hệ với nhau theo cùng một cách, và không có gì quá xa vời đến mức nằm ngoài tầm với của chúng ta, hoặc quá bí ẩn đến mức không thể khám phá ra, miễn là chúng ta không chấp nhận cái sai là cái đúng, và luôn giữ trong suy nghĩ của mình trật tự cần thiết để suy luận ra chân lý này từ chân lý khác.
“however our eyes may be dazzled with show, or our ears deceived by sound; however prejudice may warp our wills, or interest darken our understanding, the simple voice of nature and of reason will say, it is right.“
Thomas Paine